Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ

Bài ca ngất ngưỡng là một trong những tác phẩm nổi bật nhất của Nguyễn Công Trứ. Hãy cùng DINHNGHIA.COM.VN phân tích bài thơ qua bài viết dưới đây nhé!

Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ – Bài làm 1

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) xuất thân dòng dõi Nho gia, quê ở làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nhìn vào cuộc đời Nguyễn Công Trứ, chúng ta sẽ thấy rõ hai nét thấm nhuần đến tận chân tơ kẽ tóc đạo trung hiếu quân thần và ý thức rất rõ vể tài đức của mình. Điều đáng quý là ông đem hết tài đức cống hiến cho nước, cho dân trên nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, từ văn hoá đến kinh tế, quân sự và đã làm nên sự nghiệp, danh tiếng để đời. Chí hướng, nhiệt huyết ấy đương thời ít người sánh kịp. Tuy nhiên, con đường làm quan của Nguyễn Công Trứ không bằng phẳng mà thăng giáng thất thường, bởi cá tính mạnh mẽ và phong cách ngất ngưởng của ông vượt khỏi khuôn khổ chật hẹp của lễ giáo phong kiến.

Bất ngờ thú vị là ông quan lớn có tài kinh bảng tế thế như vậy mà lại có thêm tài văn chương, tâm hồn nghệ sĩ và cốt cách tài tử phong lưu, biết sống và dám sống. Sau khi cống hiến hết mình cho dân cho nước và công việc đã hoàn thành tốt đẹp thì Nguyễn Công Trứ thường tự thưởng bằng những thú chơi thanh nhã: Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo… Thảnh thơi thơ túi rượu bầu, hoặc thả hồn mơ màng theo tiếng địch, tiếng đàn du dương, trầm bổng.

Có thể coi Bài ca ngất ngưởng là bản tự thuật ngắn gọn có ý nghĩa tổng kết cuộc đời và tính cách của Uy Viễn tướng công. Nguyễn Công Trứ đã phô trương thái độ ngang tàng, một lối sống chân thật, dám khẳng định bản lĩnh cá nhân vượt ra ngoài khuôn khổ Nho giáo. Cảm xúc phóng túng được tác giả gửi vào thể ca trù có hình thức tương đối tự do, vừa là thơ vừa là ca, là nhạc:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nôn dạng từ bì.
Gót tiên theo đừng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.
Trong triều ai ngất ngưởng như ông Ị

Tình thần của bài thơ toát lên thái độ ngất ngưởng. Thái độ ấy không chi thể hiện ở tựa đề mà còn ở bốn lần tác giả nhắc lại tính từ ngất ngưởng như một sự trùng lặp cố ý, tạo thành điệp khúc đúng vào chỗ đúc kết ý trên và mở ra ý dưới.

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (2003), từ ngất ngưởng đồng nghĩa với từ ngất nghểu, được dùng để chi người ở tư thế trên cao không vững vàng, lắc lư nghiêng ngả như chực ngã. Trong Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ không dừng từ ngất ngưởng theo nghĩa này mà lồng vào đó một thái độ, một quan niệm sống khác người. Tất nhiên, muốn ngất ngưởng được như ông phải có bản lĩnh cứng cội, có lòng tin tuyệt đối vào bản thân và biết coi rẻ sự được mất, khen chê của thế gian theo thói thường. Những chức vụ Nguyễn Công Trứ đã trải qua và cung cách hành xử mà ông đã thể hiện dù khi tại chức hay khi đã về hưu được kể tới trong bài thơ này đều cho thấy ông quả là một tay ngất ngưởng hiếm có. Hơn thế, ngay cách kể về sự ngất ngưởng cũng góp phần tô đậm tính cách ngất ngưởng của ông.

Phong thái ngất ngưởng khác người ấy của Nguyễn Công Trứ vốn có từ trước, kể cả trong thời gian làm quan, hằng ngày ra vào nơi triều chính, nhưng nó bộc phát mạnh mẽ và không cần giấu giếm từ sau khi Đô môn giải tổ chi niên (trả lại ấn tín, vua cho nghĩ hưu, trở về cuộc sống đời thường). Bởi vì thái độ ngất ngưởng như thế không được phép diễn ra trước mắt các ông vua chuyện chế của triều đình nhà Nguyễn.

Mở đầu bài thơ, tác giả viết: Vũ trụ nội,mạc phi phận sự, có nghĩa ỉà mọi việc trong vũ trụ, chẳng có việc nào mà không phải là phận sự của ta. Cách nói phủ định để khẳng định ấy đề cao tâm thế của một nhà Nho chân chính.

Tác giả đặt mình ngang tầm vũ trụ nhưng rồi lại làm ra vẻ khiêm tốn tự nhận: Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.

Làm quan, ông coi là đã vào lồng, tức là vào khuôn phép nghiêm ngặt, tù túng của Tam cương, Ngũ thường. Mà như thế ỉà mất tự do, là trái với tài đội trời đạp đất của ông. Biết vậy nhưng ông vẫn tham gia triều chính vì đó là phương tiện để ông thể hiện tài năng và hoài bão của minh.

Gách xưng hô trong bài thơ có nét độc đáo. Mới đọc qua ta sẽ tưởng rằng tác giả không phải là Nguyễn Công Trứ vì các đại từ thuộc ngôi thứ ba (ông, tay) được dùng thay cho đại từ ngôi thứ nhất (tôi, ta). Qua đó, nhà thd chứng tỏ rằng mình là một giá trị hỉển nhiên giữa đời, không thể phủ nhận.

Nguyễn Công Trứ vừa mới để cao vai trò bản thân trong Vũ trụ ở câu thứ nhất thì ngay câu thứ hai đã tự trách mình là đem cái tài bộ ấy nhốt vào lổng: Tuy thế, ông không giấu sự khoan khoái, tự hào khi nhắc tới những mốc son của đời mình, dù mỗi sự kiện chĩ được nhắc bằng vài chữ như dửng dưng, không có gì là quan trọng:

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông…
Lúc binh Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Nếu theo đúng lời ông kể trong bài thơ thì ông không chỉ làm quan mà còn làm quan to, không bị giáng chức như trong cuộc đời thực mà còn luôn luôn thăng tiến. Năm 1819, ông đỗ Giải nguyên kì thi Hương; năm 1833 làm Tham tán quân vụ; năm 1835 làm Tổng đốc hai tỉnh Hải Dương và Quảng Yên; năm 1841 thăng Tham tán đại thần chỉ huy quân sự ở vùng Tây Nam Bộ; năm 1848 chính thức làm Phủ doãn Thừa Thiên. Con đường công danh thênh thênh rộng mở cho đến khi ông được vua cho phép giải tổ chi niên.

Nhắc đến những sự kiện lớn lao hiển hách trong đời mình mà giọng kể của ông nghe như bỡn cợt, đùa chơi. Đỗ Thủ khoa (đỗ đầu cử nhân khoa thi Hương trường Nghệ An), làm Tham tán quân sự…, những chức vụ ấy nổi sơ qua cũng được, nhưng làm đến Tổng đốc Hải An (Hải Dương và Quảng Yên), một chức quan to đứng đầu mấy tĩnh, hay lĩnh chức đại tướng bình Tây (xứ Tây Nam nước ta) mà chỉ gọi cộc lốc là khi Tổng đốc Đông và bình Tây cờ đại tướng thì quả thật Nguyễn Công Trứ không coi những chức tước ấy là điều vẻ vang đối với mình. Tất cả chỉ là phận sự của đấng nam nhi đứng trong vũ trụ, đốn tay mình thì làm, cái cốt yếu là đã làm thì phải hết lồng hết sức. Nguyễn Công Trứ từng nói một câu nổi tiếng: Làm tổng đốc tôi không lấy làm vinh, làm lính tôi cũng không coi là nhục. Câu tổng kết sự nghiệp: Gồm thao lược đả nên tay ngất ngưởng khẳng định đối với công danh, dù là Tổng đốc, dù là đại tướng, ông cũng coi nhẹ tênh, chẳng có gì quan trọng.

Đó là biểu hiện thứ nhất của thái độ ngất ngưởng.

Tiếp theo là một hành động ngất ngưởng xưa nay chưa từng có: Thường thường, các bậc quan lại giàu sang đi đâu thì cưỡi ngựa, còn Nguyễn Công Trứ lại cưỡi bò vàng và còn cho bò vàng đeo đạc ngựa:

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Người đời bảo ông ngông nghênh, lập dị. Có kẻ lại cho là ông cao ngạo đặt mình lên trên dư luận. Xét ra có thể còn hơn thế: ông cho bò vàng đeo đạc ngựa cũng là một cách chơi ngông. Hơn nữa, hành động ấy xảy ra ngay sau khi ông về hưu. Vừa nêu rõ thời điểm: Đô môn giải tổ chi niên (giải tổ có nghĩa là cởi dây đeo ấn), thì lại cho ngay bò vàng mình cưỡi đeo đạc ngựa để nó cũng ngất ngưởng như mình. Nếu ai suy diễn điều này thì chắc không khỏi cho rằng hành vi của Nguyễn Công Trứ là xấc xược, phạm thượng. Đó là biểu hiện thứ hai của thái độ ngất ngưởng.

Biểu hiện thứ ba là Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng cả với Bụt:

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Lên thăm chùa ở trên núi mây phủ trắng phau, ông tự cười nhạo mình là Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi. Kì thực đó chi là cái dạng thôi (vẻ bên ngoài), bởi theo hầu ông còn có một đoàn gót sen “tiên nữ” đủng đỉnh một đồi dì là các cô ả đào. Không những chẳng nên dạng từ bi chút nào mà còn bất kính nữa. Tuy vậy, ông vẫn rất tự nhiên, khiến Bụt chẳng nỡ chau mày quở trách mà còn nực cười độ lượng trước ông quan thượng già tính khí khác người.

Đến chùa, ông không lễ Phật mà bày tiệc hát ca, có cả ả đào, đàn địch, trống phách hẳn hoi. Ông say mê thưởng thức một bữa tiệc rộn rã đàn ca và cảm thấy mình đã trút sạch tục lụy của cõi đời, tâm hồn lâng lâng bay bổng trên chín tầng mây, phơi phới luồng ấm mát của gió xuân:

Dược mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.

Cá tính thượng thư bốc lên hết cỡ trong roi chầu tài hoa của Nguyễn Công Trứ. Bây giờ thì mọi sự đời: cái được, cái mất, tiếng khen, tiếng chê… ông đều coi là cỏ rác. Hồn ông lâng lâng trên cõi gió mây trong lành, cao khiết. Lời thơ vút lên hào hứng: Được mất/dương dương /người thái thượng, Khen chê /phơi phới / ngọn đông phong.

Tâm hồn Nguyễn Công Trứ bay bổng trên cao, trong âm điệu rộn rã của giọng ca, tiếng đàn tiếng trống. Câu thơ: Khi ca / khi tửu / khi cắc / khi tùng ngoài ý nghĩa liệt kê còn thêm sắc thái biểu cảm rõ nét, diễn tả tài tình tư thế ngả nghiêng thoải mái của Uy Viễn tướng công trong cuộc chơi tưởng chừng bất tận. Dù cuộc vui bày ra ngay nơi cửa Phật và có cả một đôi dì tham dự nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn cảm thấy mình trong sạch, thanh cao: Không Phật t không Tiên / không vướng tục.

Đây là đoạn mà ý thơ rõ nhất và cũng là đoạn hay nhất của bài thơ. Nếu như hai câu trước trải dài, nhịp điệu thênh thênh, thanh thoát như tấm lòng không còn vướng chút bụi trần thì hai câu sau là nhịp ca, nhịp trống, nhịp phách, nhịp rượu chúc mừng, rồi dồn lên, dồn lên rối rít và chấm dứt ở một chữ mang thanh trắc đục {tục). Chấm dứt câu thơ mà cũng là nện mạnh dùi xuống mặt trống để tự thưởng, tự hào, tự khẳng định cái tài tình, cái khoáng đạt của tâm hồn mình, khí phách mình.

Nguyễn Công Trứ ngông nghênh tự đặt mình ngang hàng với những nhân vật lỗi lạc ngày xưa (Trái Tuân thời Hán và ba ngưội thời Tống: Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật – những danh tướng có sự nghiệp hiển hách). Kết cấu câu: Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú thể hiện rõ ràng thái độ đó. Riêng mấy câu thơ ấy cũng đủ bộc lộ cốt cách và tâm tính cao ngạo của Uy Viễn tướng công, giúp người đọc hiểu được phần nào thái độ ngất ngưởng và Bài ca ngât ngưởng của ông.

Kết thúc bài thơ phóng khoáng, bay bổng này, Nguyễn Công Trứ không quên nhắc tại điệp khúc nhàm chán của đạo sơ chung, mặc dù câu đó chĩ được đặt giữa một câu tự đánh giá rất cao về bản thân và một câu như muốn thách thức với cả triều đình nhà Nguyễn:

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Điều đáng nói là tuy tôn trọng ý thích bản thân nhưng Nguyễn Công Trứ không sa vào thái độ hư vô chủ nghĩa. Trước sau ông vẫn là một nhà Nho coi trọng tư tưởng hành đạo, có tinh thần nhập thế tích cực và luôn tâm niệm: Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung, ông sống và làm việc hết mình, đồng thời biết thưởng thức, nếm trải những thú vui ở trên đời. Mọi hành động của Nguyễn Công Trứ đều toát ra tinh thần tự do, phóng khoáng.

Thái độ ngất ngưởng bất cần mọi sự đã tìm được ở thể ca trù một âm điệu hoàn toàn thích hợp: câu ngắn, câu dài tùy ý, vần liền từng cặp xen lẫn thanh bằng, thanh trắc đều đặn, niêm luật tự đo, đối không bắt buộc. Âm điệu được chi phối bởi trạng thái tâm hồn nhà thơ : lúc cười cợt, lúc tự hào, sảng khoái. Cách nói nôm na kiểu khẩu ngữ đã đem lại cho bài thơ một vẻ đẹp sinh động lạ thường.

Giọng điệu Bài ca ngất ngưởng thể hiện nét độc đáo trong tính cách tác giả: tự hào gần như tự phụ, thậm chí ồn ào. Có hai điều Nguyễn Công Trứ không hề che giấu là công tích lớn lao mà ông coi như chuyện thường tình, còn thú chơi ngông thì lại đề cao tột bực.

Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ – Bài làm 2

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) là một ông quan lớn văn võ toàn tài dưới triều Nguyễn. Nhắc đến ông người ta nhớ đến công lao khai khẩn đất hoang, lấn biển, lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Người ta cũng không quên một nhà thơ với những vần thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự đất nước, về cái tôi ngất ngưởng của một con người hiểu rõ về mình, về xã hội mà mình đang sống. Nếu như Chí anh hùng tràn đầy khí phách của người tuổi trẻ, thì Bài ca ngất ngưởng, được viết lúc ông đã thành danh, là bài thơ tổng kết về cuộc đời và khẳng định cái tôi (bản ngã) của cụ Thượng Trứ.

Để làm rõ được cái tôi ngất ngưởng của mình, nhà thơ đã chọn thể hát nói bằng chữ Nôm – một thể thơ tài tử của dân tộc tương đối tự do, viết ra không phải để đọc mà để ngâm nga, hát xướng. Người thể hiện có thể theo đà cảm xúc mà luyến láy cho phù hợp. Bài thơ vì vậy mà đầy âm sắc, nhạc điệu.

Nếu tính cả nhan đề, bài thơ có đến năm lần dùng từ “ngất ngưởng”, được đặt ở cuối mỗi đoạn như nốt nhấn của bài ca. Đây là cái dáng vẻ của một tinh thần ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên thiên hạ. Đây cũng là tư thế chung của toàn bài.

Mở bài ta bắt gặp sự khác đời trong cách tự giới thiệu về mình:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự.

Câu thơ chữ Hán tạm dịch là: Phàm những việc trong trời đất này không có việc gì không phải là phận sự của ta – Tiếp theo tác giả dùng một loạt từ Hán – Việt cùng thủ pháp liệt kê, kể cụ thể những chức tước danh phận của mình: Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông…/ Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên… Nhịp thơ trầm bổng nhấn nhá của lối ca trù nghe thật êm đềm nhẹ nhàng như mặt sông mùa xuân. Một sự khẳng định tài năng kiệt xuất của mình thật khéo mà cũng thật kiêu ngạo khác đời. Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng không hề né tránh. Ngay cả cách đưa biệt hiệu “ông Hi Văn” vào bài cũng chẳng giống ai. Hi Văn – chữ Hán có nghĩa là nhà văn hiếm. Tự gọi mình một cách trang trọng là ông và nhận mình như vậy thì chỉ có ông. Nguvễn Công Trứ đã phá vỡ tính phi ngã của thi pháp trung đại, không chịu ép mình vào cái ta chung của cộng đồng, xã hội. (Ở câu cuối ta thấy ông còn tự tách mình ra, đối lập mình với cả tầng lớp phong kiến). Tất nhiên ông có cái thế của một bậc đại nhân quân tử để viết như vậy. Nhưng nói được như ông ở thơ văn trung đại không nhiều. Nếu có chăng, trước đó có Nguyễn Trãi với một tình yêu lãng mạn ở Cây chuối, Phạm Thái đau đớn xót xa đến tuyệt vọng trước cái chết của người yêu trong Văn tế Trương Quỳnh Như. Gần nhất có cách xưng danh khắng định mình của Hồ Xuân Hương (Này của Xuân Hương mới quệt rồi – Mời trầu), hay Nguyễn Du (Thiên hạ ai người khóc Tố Như – Độc Tiểu Thanh kí). Các nhà văn ấy vẫn còn nhún nhường, khép nép hoặc còn bóng gió, chung chung.

Cái ngất ngưởng còn ở lối sống, cách sống khác đời. Nguyễn Công Trứ là người biết sống. Khi trai trẻ, hoạt động hăng hái hết mình theo quan niệm nhập thế hành đạo tích cực của nho gia, Trở về già thì sống nhàn hạ hưởng lạc. Một trong những thú vui của ông là nghe hát ả đào (còn gọi là ca trù). Người ta lên xe xuống ngựa xênh xang thì cụ Thượng Trứ ngao du sơn thủy, thưởng lãm chùa chiền cùng các cô đầu bằng xe bò. Mà là bò cái vàng với cái mo cau che sau đuôi. Cụ giải thích: Để che miệng thế gian:

Điển viên dạo chiếc xe bò cái

Sẵn chiếc mo che miệng thế gian

Sự ngông ngạo này chính ông đã nhận xét: Bụt cũng nực cười… Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi lẽ sống được tầm thường ở đời:

Được mất dương dương người tái thượng

Khen che phơi phới ngọn đông phong

Khi cơ, khi tửu, khi cắc khi tùng

Không phật, không tiên, không vướng tục

Như trên đã nói, Nguyễn Công Trứ tự tách mình ra khỏi cái trật tự xã hội nhố nhăng, ô uế, bẩn thỉu, nhiều kẻ vỗ ngực là quân tử nhưng thực chất chỉ là hạng cây vông: Tuổi tác càng già càng xốp xáp/ Ruột gan không có, có gai chông (Vịnh cây vông).

Ngông ngạo nhưng ở hai bài này Nguyễn Công Trứ không rơi vào tình thế bi quan bế tắc hay phá phách bất cần đời như một số nhà văn lãng mạn sau này. Mục đích sống của ông rất rõ ràng: Phò vua giúp nước:

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Hay như có lần đối lại ý của một nhà sư ông hóm hỉnh nêu:

Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ

Không quân thần phụ tử đếch nên người.

Nói khác đi, sự ngất ngưởng của ông ta là để nhằm lật tung cái trật tự xã hội phong kiến đương thời tưởng như yên ả bằng phẳng nhưng thực chất thối nát, mục ruỗng đến cùng cực. Ông không muốn mình bị “đồng hóa” cùng hội cùng thuyền với lũ tham quan vô lại.

Vì vậy tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến có ngạo nghễ nhưng không ngoa ngôn, lộng ngữ, vừa cụ thể lại vừa có tính biểu tượng, vừa có chút trào phúng lại vừa mang tính triết lý, thể hiện quan niệm sống của nhà thơ.

Thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn phóng khoáng ngang tàng như bản chất con người ông. Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài được nhiều người nhắc đến với sự tán thưởng thích thú. Một phần bởi bài thơ giàu tính nhạc, nhưng phần lớn bởi bản lĩnh vững vàng cứng cỏi của con người tài năng xuất chúng này. Nguyễn Công Trứ đã thổi một luồng sinh khí mới lạ cho văn chương đương đại, đưa yếu tố cá nhân, cái tôi cần được giãi bày vào trực tiếp trong văn chương. Đó cũng là một trong những bước đệm quan trọng để văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX có những bước chuyến mình vượt bậc, bước qua cái ta, giải phóng yếu tố cá nhân, cho văn chương Việt Nam tiến kịp nền thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật hiện đại thế giới nói chung.

Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ – Bài làm 3

Từ xa xưa đến nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính nhà thơ. Không những thế, qua thơ người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong độ của mỗi thi nhân. Ai đó đã nói: Văn là người. Điều đó thật đúng với những nhà văn, nhà thơ lớn. Ở họ văn với người là một, con người trong văn chương và con người ngoài đời tuy không hẳn đồng nhất, nhưng rất thống nhất. Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế. Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng ta có thể hình dung rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa.

Bao trùm lên toàn bộ bài ca là hình tượng một con người “ngất ngưởng”. Nhưng đó không phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, mà lài cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và đầy tự tin và đầy bản lĩnh. Con người ấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình. Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường mà là một lối sống độc đáo, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Chẳng thế mà ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào không phải nhận sự của ông “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”. Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, kiêu hãnh và một ý thức rất sâu sắc về trách nhiệm của chính mình. Không phải ngẫu nhiên mà khi đọc thơ văn Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tói “Chí nam nhi”, “Chí làm trai”, “Chí tang bồng”, “Phận sự làm trai”, “Nợ nam nhi”, “Nợ tang bồng”… Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà nho chân chính. Trong bài thơ này thái độ tự tin, kiêu hãnh ấy lại được thể hiện bằng một giọng diệu “ngất ngưởng”, “ngang tàng”. Cứ xem cách xưng hô ở câu thơ thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là “Ông Hi Văn”, tự giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như “đã vào lồng”, ta cũng đủ thấy rõ thái độ người viết vừa như trang nghiêm lại vừa như “u mua”, hài hước.

Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải chỉ lúc làm quan đương chức “Khi Thủ khoa, khi Tham tá, khii Tổng đốc Đông”. Hoặc: “Lúc Bình Tây, cờ Đại tướng; có khi về Phủ doãn Thừa Thiên” mà sau khi về hưu, không làm quan nữa, thái độ ấy càng thêm đậm nét, tính cách “ngất ngưởng” càng thêm ổn định. Phải chăng khi đã thoát ra khỏi chốn quan trường, khi đã “tháo cũi, sổ lồng”, không chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở nên “ngất ngưởng”. Ông ngất ngưởng trong cung cách sống. Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: Người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và thung dung trong tư thế:

“Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gói tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng bật cười ông ngất ngưởng”

Không chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn thể hiện rất rõ trong quan niệm được mất và sự lạc quan, bình thản trước cuộc đời:

“Được mất dương dương người Tái thượng

Khen chề phơi phới ngọn đông phong”.

Cũng giống như chuyện ông già biên ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế không có gì phải vội vàng hốt hoảng. Cũng như khen chê là chuyện bình thường, có gì mà phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy “quảng gánh lo đi mà vui sống” (Lâm Ngữ Đường).

“Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không Tiên, không vương tục”.

Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ nghi và nhiều luật lệ hết sức chặt chẽ, hà khắc, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, “ngông nghênh” kiểu Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự thách thức, một sự “chòng ghẹo” cuộc đời. Thực ra thái độ và cách sống ấy của ông được bắt nguồn từ một bản lĩnh và một ý thức muốn khẳng định cái cá nhân độc đáo của mình. Dường như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi cá nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mặt khác, quan niệm và cách sống ấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình. Chẳng thế mà ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán đến đời Tống của Trung Hoa: “Chẳng Thái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú”. Chẳng thế mà ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: “Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn sơ chung”. Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt. Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kỳ mà nhà Nguyễn mới thống nhất đất nước, chấm dứt nội chiến, củng cố quân quyền và phục hưng nho học. Hoàn cảnh lịch sử ấy là cơ sở tinh thần cho cả một tầng lớp nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, cố gắng vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình. Chính Nguyễn Công Trứ từng tự nhủ:

“Đã sinh ra ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

Ông tâm niệm và đã làm được hơn thế. Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận. Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông.

Kết thúc bài ca, Nguyễn Công Trứ viết: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”. Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa như khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thìa; vừa như là lời tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời… Đúng như câu thơ và cả bài thơ cũng “ngất ngưởng” như ông vậy. Cái vẻ đẹp ngất ngưởng từ bài ca và cuộc đời Nguyễn Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này. Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách ấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân ngày nay.

Trên đây là bài viết phân tích Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ. Hy vọng bài viết trên sẽ giúp ích cho bạn trong quá trình học tập và rèn luyện. Chúc bạn học tốt!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *